Quốc Gia Khởi Nghiệp – Dan Senor, Saul Singer

“Quốc gia khởi nghiệp” là câu chuyện viết về sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Israel từ lúc lập quốc cho đến khi trở thành quốc gia có nền công nghệ hàng đầu thế giới. Quyển sách này có thể trả lời cho những thắc mắc làm thế nào một đất nước nhỏ bé lại có thể tồn tại giữa sự thù địch của các quốc gia lân cận, đối phó với những cuộc chiến giữ vững bờ cõi mà vẫn tạo ra sự sáng tạo vượt bậc trong các lĩnh vực công nghệ, quân sự và dân sự.

Review

Xin chào mọi người, sau một thời gian chinh phục cuốn sách này và đã hoàn thành vào hôm qua. Em có chút suy nghĩ về họ, một số vấn đề về chúng ta và đôi chút lời tản mạn…

Những bài học rút ra từ cuốn sách:

1. Không gì là không thể!

Dân tộc Do Thái đã trải qua một chặng đường thật sự dài phải bôn ba khắp nơi, trải qua các cuộc thảm sát, diệt chủng trước khi lập quốc. Cho đến khi đã thành công trong việc thực hiện ước mơ của tô tiên là xây dựng nên một Quốc gia riêng, nơi bảo vệ những người con Do Thái. Họ lại đối mặt với những khó khăn khác: sự cô lập từ các quốc gia Ả Rập, chiến tranh và điều kiện thiên nhiên không thuận lợi…

Thế nhưng họ đã vượt lên tất cả để xây dựng nên một quốc gia giàu có, “nuôi cá trên mạc”, biến hoang mạc thành rừng nhân tạo, một nền nông nghiệp vững mạnh ở nơi mà lẽ ra không phù hợp cho ngành này…

2. Sự mạo hiểm và thay đổi sẽ tạo nên sự khác biệt.

Người Do Thái luôn sống trong hiện tại. Họ luôn tự đặt ra câu hỏi về các vấn đề có sẵn. Tại sao lại như vậy? Tại sao lại không phải là…? Đối với họ, những gì đúng của ngày hôm qua không có nghĩa là hôm nay sẽ đúng. Và những thứ đúng của ngày hôm nay chưa chắc có giá trị ở ngày mai.

Luôn đặt tinh thần “Chutzpah” lên hàng đầu. Họ là một quốc gia của dân nhập cư. Dân nhập cư vốn là những “tay chơi” không ngại mạo hiểm, dám bỏ hết tất cả để xây dựng một cuộc sống mới và cũng sẽ không ngại thay đổi cả cuộc sống ấy để có được những điều mới mẻ hơn.

3. Lòng yêu nước và tinh thần tự cường dân tộc đã làm nên một Israel đáng ngưỡng mộ.

Chắc hẳn đối với mỗi đất nước đều có tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của riêng mình. Vì thế câu chuyện ở đây là những thứ riêng có của họ. Họ có thể làm tất cả để xây dựng lên đất nước và để phát triển “đứa con tinh thần” ấy. Việc buôn lậu vũ khí, nhập cư trái phép…họ đều sẵn sàng làm để xây dựng quân đội, phát triển kinh tế của mình…mặc dù cái này không hay ho gì.

Nhưng để rồi nhìn lại, một đất nước nhỏ bé, tài nguyên thì nghèo nàn, có một dân tộc bị áp bức nhưng lại chiếm tới 1/5 Nobel. Đây là sự công nhận của một điều phi thường. Hầu như tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới này đều bị kéo chậm lại tiến trình phát triển thế nhưng những gì mà họ làm được đã nói lên điều ngược lại.

Một chút tản mạn

Bên cạnh đó thì không trách được họ, sách là của họ thì viết phải hay là đương nhiên. Ta thấy được sự cô lập của người Ả Rập với Israel nhưng bên trong đất nước này lại đánh giá không cao người Ả Rập sinh sống tại đó. Họ không cần bắt buộc đi nghĩa vụ quân sự, và người Israel cực kì coi trọng bản lí lịch quân sự. Đương nhiên rồi, chế độ của người Do Thái là nghĩa vụ bắt buộc. Có chút gì đó mà người Do Thái gọi là “gánh nặng” đến từ người Ả Rập cũng như người nhập cư vì họ không thông minh bằng dân tộc của họ. Cuốn sách đã nói lái đi theo một hướng khác nhưng ta có thể thấy được như vậy.

Trong thời gian qua, dịch Covid 19 đang thật sự làm điên đảo nền KT của cả thế giới. Nhưng chúng ta cũng đã xác định tinh thần là trong khó khăn lại càng phải cố gắng. “Biến nguy thành cơ”. Toàn dân cùng đồng lòng nhất định sẽ thắng lợi. Điều đó cũng giống như Israel khi lập quốc đã bị bao vây, cấm vận bởi cả khu vực. Rồi họ đã tìm ra con đường tốt nhất và duy nhất đó là đưa sản phẩm của mình ra với thế giới và đã thành công… Trong thời khắc khó khăn này. Các Doanh nghiệp VN cần cố gắng để tìm ra những hướng đi và giải pháp để có thể vượt qua tất cả. Không bỏ cuộc. Và cũng cần có sự giúp đỡ của CP như Israel ngày ấy. Tại VN chủ yếu là các doanh nghiệp SMEs, nếu dịch bệnh lâu thì rất nhiều trong số đó không thể trụ vững và sẽ phá sản… Sẽ tuyệt vời nếu có một chướng trình nào đó giúp đỡ họ nhiều hơn. Như Yozma của Israel đã tháo gỡ khó khăn về nguồn tiền cho doanh nghiệp của họ…

Đó là những suy ngẫm mà em rút ra được sau cuốn sách ấy. Mỗi người có một quan điểm riêng của mình. Nếu có suy nghĩ về bài học gì mong mọi người sẽ trao đổi để chúng ta cùng hiểu biết nhiều hơn. Như George Benard Shaw từng nói: ” Nếu bạn có một quả táo, tôi có một quả táo. Chúng ta trao đổi cho nhau, mỗi người vẫn có một quả táo. Nếu bạn có một ý tưởng, tôi cũng có một ý tưởng, khi trao đổi cho nhau chúng ta có hai ý tưởng”.

Cảm ơn mọi người đã đọc! Và đây là cuốn sách mà mọi người có thể dành thời gian để đọc.

– Quang Tùng

Tóm tắt

Tác phẩm đã minh họa sống động một Israel thần kỳ, một vườn ươm công nghệ lớn nhất thế giới, một sự đấu tranh mãnh liệt và tuyệt diệu để cho sự sáng tạo và khởi nghiệp luôn luôn trỗi dậy.

Chương 1 – “Ngoan cố”

Chàng trai trẻ Shvat Shaked là một doanh nhân khởi nghiệp, nhưng anh rất tự tin để trình bày với chủ tịch của PayPal – ông Thompson, về giải pháp ngăn chặn nạn lừa đảo trực tuyến, một vấn đề mà PayPal đã mất rất nhiều thời gian và công sức để đối phó.

Shaked bình tỉnh trình bày: “Rất đơn giản, chúng tôi tin rằng, thế giới chỉ có hai loại người: Tốt và xấu. Và bí quyết đánh bại nạn lừa đảo qua mạng là sàng lọc hai loại người này trên internet. Người tốt thì để lộ dấu chân trên mạng, còn kẻ xấu thì không, vì chúng tìm cách ẩn mình. Điều chúng ta cần làm là tìm các dấu chân của chúng”.

Điều làm cho ông Thompson ngạc nhiên và thán phục, khi nhóm của Shaked – Công ty Fraud Sciences, chỉ mấy chục người, họ nguyên là quân nhân của đơn vị tình báo 8200 của quân đội Israel, chỉ sau ít hôm, đã phân tích được một trăm nghìn giao dịch khách hàng với độ chính xác cao hơn hẵn cả nhóm kỹ sư, tiến sĩ của PayPal thực hiện trong mấy năm.

Trước công nghệ đột phá của Fraud Sciences, Thompson quyết định thâu tóm công ty này.

Sau khi mua Fraud Sciences, Thompson ghé thăm công ty. Ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ mà ông cảm thấy vô cùng thú vị là thái độ của các nhân viên. Họ rất nhiệt tình, tự tin, chăm chỉ và rất thẳng thắn. Họ không ngại ngần, họ luôn đặt vấn đề bằng những câu hỏi rất sắc sảo. Người Israel học được rằng, tính quyết đoán là bình thường, tính trầm lặng là nguy cơ bị tụt hậu.

Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành.

Chương 2 – Doanh nhân trên chiến trường

Cuộc chiến sáu ngày năm 1967, Israel đã đánh bại liên quân Ai Cập và mở rộng biên giới: giành cao nguyên Golan, dải Gaza và bán đảo Sinai. Người Israel có cảm giác bất khả chiến bại. Cho nên, ngày 6 tháng 10 năm 1973, cuộc tấn công của quân Ai Cập làm Israel bất ngờ, tuyến phòng ngự đã bị quân Ai Cập dễ dàng chọc thủng. Những chiếc xe tăng của Israel lần lượt nổ tung, mặc dù trước mặt chẳng thấy bóng dáng quân địch. Tên lửa Sagger được dẫn hướng bằng dây, chỉ do một người nằm sát mặt đất điều khiển là thủ phạm! Làm thế nào để đối phó? Reshef và binh lính phải tự khám phá ra phương cách. Quân Israel thực hiện chiến thuật mới: Mỗi khi nhìn thấy tia sáng đỏ, mọi xe tăng lập tức di chuyển theo nhiều hướng ngẫu nhiên và khai hỏa. Khói bụi bốc lên mù trời che mất tầm nhìn của kẻ thù. Chiến thuật đó đã ngăn chặn được cuộc tấn công của quân địch. Sau khi cuộc chiến chấm dứt, nhiều nước NATO học theo chiến thuật này. Vậy là, những chiến lược sáng tạo đều đến từ binh lính ngoài tiền tuyến, điều rất khó xảy ra ở bất kỳ đơn vị quân đội nước ngoài nào.

Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên. Giá trị của binh lính Israel không phụ thuộc quân hàm, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh lính đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh lính thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutpah trong quân đội. Điều này cho thấy tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc cơ bản của sản phẩm của chính công ty mình.

Chương 3 – Nhân vật của Quyển Sách

Hai vợ chồng người Do Thái, Dorit Moralli và Eli điều hành một tổ hợp nhà hàng khách sạn tại El Lobo ở Bolivia, nơi đây bán đồ ăn Israel, và đặc biệt có thứ giá trị hơn nhiều: Quyển Sách.

Quyển Sách: lúc đầu được viết bằng tiếng Hebrew, ngày nay, các bài viết đa ngôn ngữ của du khách mang tính ngẫu hứng: bực bội, thất vọng, tươi đẹp, lời khẩn cầu, nhắn nhủ… như một lễ hội ý tưởng. Quyển Sách vẫn là một hiện tượng nguyên bản của người Israel, rất nhiều dân phượt trẻ tuổi người Israel đi theo lời khuyên của quyển sách từ nơi này đến nơi khác. Họ hấp thụ qui tắc phượt toàn cầu: Đi thật xa, ở thật lâu và nhìn thật kỹ.

Tính thích du lịch của người Israel cũng phát xuất từ nguyên nhân sâu xa: các nước láng giềng thù địch chung quanh cô lập Israel, tẩy chay nền kinh tế Israel. Trong bối cảnh như vậy, rất tự nhiên, giới trẻ Israel tìm cách thoát khỏi thế giới Ả Rập để bày tỏ sự coi thường chủ nghĩa phân biệt đó. Bị bao vây, nên việc xuất khẩu hàng hóa cồng kềnh chi phí sẽ cao vì thị trường xa. Nên, nền kinh tế’ Israel tận dụng và phát triển kinh tế công nghệ cao như viễn thông, máy tính, phần mềm, internet dựa trên trí thức và sự sáng tạo. Các công ty của Israel gắn kết chặt chẽ với các thị trường Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ La tinh. Mối liên hệ giữa nhiều thanh niên Israel chu du khắp thế giới và công cuộc xâm nhập thị trường hải ngoại của các doanh nhân Israel rất rõ ràng: một phần theo đuổi những điều viết trong Quyển Sách, một phần quan trọng hơn là giới thiệu về đất nước Israel của họ. Tinh thần đó thể hiện rõ nét ở các doanh nghiệp như Netafim, Medved…

Netafim do Simcha Blass sáng lập với ý tưởng về công nghệ tưới nhỏ giọt làm tăng sản lượng cây trồng 50% trong khi giảm 40% lượng nước tưới tiêu. Netafim hoạt động ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Đặc biệt nhờ tính ưu việt trong công nghệ của Netafim, chính phủ của các quốc gia thù địch trước kia đã mở lại các kênh ngoại giao.

Medved thành lập Israel Seed Partners, một công ty đầu tư mạo hiểm. Ông đã dành rất nhiều thời gian ở nước ngoài để thuyết giảng về nền kinh tế Israel, một nền kinh tế với công nghệ chất lượng cao. Medved diễn thuyết với các đồng nghiệp các nước khác. Những người khác luôn giới thiệu về công ty của họ, Medved luôn giới thiệu về đất nước Israel. Cứ như thế, các doanh nhân và CEO người Israel luôn tự gắn mình với nhiệm vụ ngoại giao tự phong để đại diện cho đất nước, quảng bá và tìm cách “chào bán” cả nền kinh tế Israel.

Chương 4 – Harvard, Princeton và Yale

Trong khi học sinh trung học nước khác bận nghĩ sẽ theo học trường đại học nào, thì học sinh Israel lại cân nhắc và định hướng bản thân để được tuyển dụng vào các đơn vị của quân đội Israel. Những cơ sở đào tạo quốc gia được xem là ngang hàng với Harvard, Princeton và Yale là các đơn vị tinh nhuệ của quân đội Israel.

Ở Israel, quá khứ quân ngũ của một người đôi khi còn quan trọng hơn quá khứ học thuật của họ.

Cuộc chiến là lời cảnh báo đắt giá rằng Israel phải bù đắp cho diện tích nhỏ và dân số ít ỏi của mình bằng cách duy trì thế mạnh về công nghệ và chất lượng.

Quân đội Israel là môi trường duy nhất trong xã hội Israel cho phép thanh niên làm việc chung và gắn bó mạnh mẽ với bạn bè từ những nền văn hóa, tôn giáo, xã hội khác nhau của những người Do Thái nhập cư. Điều này làm thay đổi năng lực và tinh thần của mỗi cá nhân, họ trưởng thành nhanh hơn, trải nghiệm sống nhiều hơn, sức sáng tạo sung mãn hơn.

Gary Shainberg, phó chủ tịch của Bristish Telecom nói: “Có điều gì đó trong gen sáng tạo của người Israel mà ta không thể giải thích được. Tôi nghĩ, nó đến từ sự trưởng thành, bởi không đâu trên thế giới, người ta vừa làm việc trong một trung tâm sáng tạo công nghệ, lại vừa tham gia nghĩa vụ quân sự”.

Từ thời lập quốc, người Israel luôn cho rằng tương lai – dù gần hay xa – đều là dấu hỏi. Mỗi khoảnh khắc đều có tầm quan trọng chiến lược. Nên, khi một doanh nhân Israel có một ý tưởng, anh ta sẽ thực hiện nó ngay. Quan điểm cho rằng nên tích lũy năng lực, kinh nghiệm trước khi mở một doanh nghiệp hoàn toàn không tồn tại.

Chương 5 – Nơi trật tự gặp hỗn loạn

Các tổ chức được cơ cấu theo một trong hai mô hình: Một là mô hình tiêu chuẩn, trong đó các thủ tục và hệ thống kiểm soát mọi thứ. Hai là mô hình thử nghiệm theo đó, mọi ngày, mọi bài luyện tập và thông tin được đánh giá và tranh luận trong môi trường văn hóa tương tự phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển.

Chiến tranh đối với người Israel cũng là “nỗ lực thực nghiệm”. Trong các đơn vị tinh nhuệ của quân đội Israel, mỗi ngày là một thực nghiệm, việc chất vấn nhau cũng quan trọng như luyện tập hay đánh trận. Biện minh cho điều bạn đã làm là một việc không phổ biến.

Truyền thống từ trước đến nay của quân đội Israel là không có truyền thống, không quá gắn bó với bất kỳ ý tưởng hoặc giải pháp nào chỉ vì chúng từng hữu dụng trong quá khứ. Cái mới không phải lúc nào cũng tốt hơn cũ, nhưng ít nhất trong dòng chảy của những ý tưởng tươi mới cũng giúp hạn chế tiến trình lão hóa trong tư duy.

Những tổ chức lớn, dù là quân đội hay tập đoàn, cần thường xuyên cảnh giác với thái độ khúm núm và thói tư duy bầy đàn, nếu không, có nguy cơ lao vào những sai lầm nghiêm trọng. Tinh thần khởi nghiệp được sản sinh khi con người dám vượt qua các rào cản, đảo ngược mọi quy phạm xã hội, và tung hoành trong một nền kinh tế tự do thương mại, tất cả nhằm thúc đẩy những ý tưởng cấp tiến.

Trở ngại khủng khiếp của tính lưu chuyển chính là trật tự. Một chút xáo trộn không chỉ vô hại mà còn cực kỳ quan trọng. Môi trường lý tưởng thông qua khái niệm “khoa học của sự phức tạp” được gọi là “lợi thế của sự hỗn loạn” được định nghĩa là “vùng cửa sông mà trật tự cứng nhắc và hỗn loạn ngẫu nhiên gặp nhau để tạo ra sự thích nghi, tinh xảo và sáng tạo ở mức độ cao”. Đây chính là môi trường mà trong đó các doanh nhân khởi nghiệp Israel đang phát triển lớn mạnh.

Chương 6 – Một chính sách công nghiệp hiệu quả

Chủ nghĩa bitzú (thực dụng) là trung tâm của những đặc tính tiên phong và là động lực của tinh thần khởi nghiệp Israel. Chủ nghĩa bitzú là chủ đề đi từ những con người dám đối mặt với kẻ cướp và tát cạn đầm lầy cho đến những doanh nhân tin rằng, họ có thể bất chấp những điều kỳ quặc và nòng súng để biến ước mơ thành hiện thực.

Cú nhảy vĩ đại đầu tiên là nông trang, tuy chiếm 2% dân số nhưng sản xuất đến 12% hàng hóa xuất khẩu. Phong trào phát triển trong suốt 20 năm dần chiếm 4% dân số và đã đóng góp 15% thành viên quốc hội và một lực lượng lớn cho quân đội Israel. Sự trổi dậy của nông trang là kết quả của những đột phá trong công nghệ và nông nghiệp do các trường đại học thực hiện. Công nghệ tưới nhỏ giọt, khử mặn, thủy lợi vô cùng hiệu quả. Vùng đất phía Bắc sa mạc Negev đã biến thành các cánh rừng và các cánh đồng nông nghiệp. 70% lượng nước thải được tái chế để sử dụng lại, các nông trường nuôi cá thương phẩm, nước chứa chất thải của cá là phân bón cho cây chà là và ô-liu. Rau và cây ăn trái được tưới bằng nguồn nước ngầm. Israel là quốc gia duy nhất mà sa mạc bị đẩy lùi.

Nền kinh tế Israel phát triển, một phần nhờ sự can thiệp của chính phủ, thay vì để nó tự phát. Việc đầu tư vào hạ tầng được đẩy mạnh, nhất là dự án hệ thống dẫn nước biển Galilee từ phía Bắc xuống vùng Negev khô hạn kích thích tốc độ tăng trưởng cao. Israel bắt đầu sửa chữa các máy bay còn lại từ thời thế chiến II thành lập doanh nghiệp Bedek, sau này trở thành AirCraft Industries, một trong những doanh nghiệp dẫn đầu thế giới về hàng không.
Cú chuyển mình thứ hai bắt đầu từ năm 1990, kế hoạch cắt giảm nợ công, hạn chế chi tiêu chính phủ, tư hữu hóa, cải cách vai trò của chính phủ về thị trường vốn, huy động vốn đầu tư vào những tài năng khởi nghiệp được nuôi dưỡng bằng văn hóa truyền thống và môi trường quân đội.

Để nền kinh tế có thể thật sự cất cánh đòi hỏi ba nhân tố bổ sung: Một làn sống người nhập cư mới, một cuộc chiến mới và một ngành đầu tư mạo hiểm mới.

Chương 7 – Nhập cư

Người Do Thái Ethiopia phải sống dưới chế độ bài Do Thái hà khắc. Phần lớn họ sống trong những ngôi làng hẻo lánh, lạc hậu và thường đối phó với nạn đói. Họ mơ ước đến Israel. Molla, 16 tuổi cùng 17 người bạn quyết tâm đi bộ về phương Bắc, họ dự tính đến Sudan, Ai Cập, băng qua sa mạc Sinai để đến Israel. Họ sẽ đối mặt với bao nhiêu hiểm nguy. Và rồi, họ bị lính biên phòng Sudan truy đuổi và bị tống vào trại tị nạn ở Sudan. Ở trại tị nạn, họ gặp một người đàn ông da trắng, người này đưa bọn họ và hàng trăm người khác nữa bí mật về Israel, đó là chiến dịch Moses của chính phủ Do Thái vào năm 1984. Tiếp sau đó, chiến dịch Solomon đã đưa hàng chục ngàn người Do Thái Ethiopia đến Israel. Làn sóng người Ethiopia nhập cư đã trở thành gánh nặng kinh tế cho Israel, vì họ sống nhờ sự trợ giúp của chính phủ.

Cùng lúc với chiến dịch Solomon, và nhất là khi Liên Xô sụp đổ, làn sóng người Nga gốc Do Thái đổ bộ vào Israel. Khác với những người Ethiopia, phần lớn những người Nga là thành phần học thức, có rất nhiều tiến sĩ, kỹ sư, giáo sư và họ góp phần tạo ra phép màu cho kinh tế Israel. Rồi người Do Thái từ Morocco, Yemen, Đông Âu… tiếp tục làn sống nhập cư vào Israel đã đưa dân số Israel từ 806 nghìn người tăng lên 7,1 triệu người với 70 quốc tịch và nền văn hóa khác nhau, đó là một thách thức không nhỏ.
Người nhập cư không ngại làm lại từ đầu. Họ là những người dám mạo hiểm. Một quốc gia của người nhập cư là một quốc gia của tay chơi khởi nghiệp.

Nhà nước Israel mở cửa cho người nhập cư Do Thái. Mọi người Do Thái đều có quyền đến nước này, quyền công dân Israel có hiệu lực ngay trong ngày đầu tiên người nhập cư đến, bất cứ họ sử dụng ngôn ngữ gì. Và tất cả họ tập trung vào việc làm thế nào để Israel có thể trở thành một trong 15 nước giàu nhất thế giới vào năm 2020.

Chương 8 – Cộng đồng Do Thái hải ngoại

Michael Laor, một người Do Thái, sau khi tốt nghiệp kỹ sư, anh làm cho Cisco ở California (Mỹ) và trở thành giám đốc kỹ thuật. Năm 1997, anh quyết định trở về Israel, Cisco thay vì để mất một kỹ sư hàng đầu đã đồng ý để Laor mở một trung tâm R&D của Cisco tại Israel. Năm 2008, công ty của Laor và thêm 9 công ty khởi nghiệp của Israel khác nữa được Cisco mua lại và đầu tư với 1,2 tỷ USD. Đây là hiện tượng “lưu chuyển chất xám”. Ra đi và định cư ở nước ngoài, rồi quay về cố hương, chứ không hề bỏ rơi một trong hai nơi này, đã kết nối Israel với cộng đồng Do Thái hải ngoại, cộng đồng này tuy nhỏ nhưng rất tâm huyết.

Sau khi xem phim tài liệu về người Do Thái bị giết hại trong thế chiến II. Schwimmer – một người Mỹ gốc Do Thái, đã trở thành người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái tận tụy. Khi người Anh rút khỏi Palestine, một cuộc chiến tổng lực giữa thế giới Ả Rập và người Do Thái sẽ xảy ra, nhưng quân đội Do Thái chẳng có lấy một chiếc máy bay. Trước tình thế đó, Schwimmer tìm được một số phi công và thợ máy người Do Thái có tay nghề cao từ Mỹ và Anh để chế tạo thứ mà ông gọi là máy bay dân dụng Do Thái đầu tiên. Ông và cộng sự đã mua và chuyển lậu một số máy bay về Israel mặc dù ông biết việc này là phạm pháp.

Hai năm sau, Schwimmer sát cánh cùng Shimon Peres tìm cách mua 30 máy bay Mustang thừa của Mỹ, nhưng Mỹ lại quyết định phá hủy chúng. Schwimmer đến bãi phế thải ở Texas mua các máy bay đã bị cắt rời, ông tháo từng mãnh đóng vào thùng, đánh dấu “dụng cụ tưới tiêu” và gửi về Israel. Schwimmer sửa chữa, nâng cấp và bán cho quân đội và các hãng hàng không các nước đồng thời sản xuất máy bay thương mại cho riêng Israel, đó là tiền thân của Israel Aircraft Industries (công nghiệp hàng không Israel).

Shimon Peres lại kết hợp với Ben. Gurion đã chiêu mộ thành công một số người Mỹ gốc Do Thái, tạo ra quỹ đầu tư mạo hiểm làm cú hích dài hạn và lớn nhất cho nền kinh tế Israel mà không cần kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài.

Chương 9 – Phép thử của Buffett

Warren Buffett chưa bao giờ thâu tóm doanh nghiệp ngoài lãnh thổ Mỹ vì ông ngại rủi ro. Nhưng ông đã nhìn khác đi về Israel. Buffett đã mua công ty chế tạo máy công cụ Iscar với giá 4,5 tỷ USD trên đất nước Israel. Quan điểm mới của Buffett là, nếu công xưởng của Iscar bị trúng bom, họ sẽ xây nhà máy khác, nhà máy không đại diện cho giá trị của công ty mà chính tài năng của nhân viên và ban quản lý, nền tảng quốc tế của khách hàng trung thành và thương hiệu mới tạo ra giá trị của Iscar.

Nhiều tên lửa rơi gần nhà máy Iscar, nhiều công nhân tạm thời chuyển chỗ ở, chủ tịch Iscar nói: “Chúng tôi có mất chút thời gian để điều chỉnh, nhưng chúng tôi không lỡ một chuyến giao hàng nào. Với khách hàng của chúng tôi trên thế giới, thì không có một cuộc chiến nào cả”.

Dow Frohman tốt nghiệp công nghệ Technion, Israel, ông quyết định học thạc sĩ ở California, sau đó trở thành nhân viên đầu tiên của Intel. Ông đã phát minh một loại chíp đã mang lại lợi nhuận cao nhất và là huyền thoại của Intel. Nhưng Frohman muốn thành lập một doanh nghiệp và muốn Israel trở thành quốc gia dẫn đầu trong ngành thiết kế chíp.

Nhóm kỹ sư Israel với Frohman được Intel đầu tư xây dựng trung tâm thiết kế mới ở Haifa, Israel. Sự trỗi dậy của Israel như trung tâm sản xuất tối quan trọng cho Intel.

Trong cuộc chiến vùng Vịnh, Iraq xâm lược Kuwait, Mỹ tấn công Iraq. Israel là mục tiêu của tên lửa Scud của Iraq. Chính phủ Israel ra lệnh các trường học, doanh nghiệp phải đóng cửa để đảm bảo an toàn. Nhưng Frohman chống lệnh của chính quyền, đã chuẩn bị một kịch bản tuyệt nhất trong cuộc chiến trên tinh thần tự nguyện của công nhân. Họ thường xuyên mang mặt nạ chống hơi độc, lập nhà trẻ trong nhà máy, sẵn sàng di tản vào hầm trú khi tiếng còi báo động vang lên. Điều đã làm cho Frohman bất ngờ là đã có 75% nhân viên có mặt, sản lượng đã tăng lên 80%. Thái độ “bất chấp” của họ như nói lên: “chúng càng tấn công ta bao nhiêu, ta sẽ càng thành công bấy nhiêu”. Người Israel, thông qua việc tạo dựng danh tiếng cho cả nền kinh tế lẫn doanh nghiệp, vừa là để khẳng định lòng tự hào dân tộc, vừa là thước đo cho lòng kiên định của đất nước và niềm tin cho các nhà đầu tư. Rủi ro và thảm họa trở nên vô nghĩa đối với các tập đoàn đa quốc gia đang tìm cách kinh doanh tại Israel.

Chương 10 – Yozma trận đấu

Trước khi có quỹ đầu tư mạo hiểm, ở Israel chỉ có hai nguồn quỹ: quỹ trợ cấp OCS cho doanh nghiệp mới thành lập và quỹ BIRD của chính phủ Mỹ và Israel.

Tuy nhiên, các quỹ trợ cấp này còn khiêm tốn, không đủ số tiền cho các công ty khởi nghiệp cần. Cho nên, cần phải có quỹ đầu tư mạo hiểm (VC).

Vai trò của các nhà đầu tư mạo hiểm không chỉ là cung cấp tiền mặt mà họ còn dìu dắt, giới thiệu đến mạng lưới của những nhà đầu tư, các đối tác, khách hàng. Một quỹ VC tốt giúp doanh nhân xây dựng công ty. Để thành công, ngành đầu tư mạo hiểm của Israel cần phải có quan hệ chặt chẽ với các thị trường tài chính nước ngoài; ngoài việc gây quỹ còn phải nắm bắt được nghệ thuật cố vấn trong kinh doanh.

Một số nhà chính trị trẻ tại bộ tài chính Israel nẩy ra ý tưởng về một chương trình gọi là Yozma, chính phủ bỏ ra 100 triệu USD tạo ra 10 quỹ tư mạo hiểm mới. Quỹ có 3 bên làm đại diện: những nhà đầu tư mạo hiểm Israel, một hãng đầu tư mạo hiểm ở nước ngoài và một công ty đầu tư hoặc ngân hàng Israel. Stanlef Chain, nhà quản lý tiền tệ ở California đã giúp huy động vốn vòng một cho Yozma qua các buổi gặp gỡ giới Do Thái giàu có tại California.

Chính phủ đã được dùng như một chất xúc tác thông qua việc hợp tác giữa ngân hàng đầu tư Discount Israel và Advent ở Boston. Mười quỹ Yozma của chính phủ sẽ được mua lại hoặc tư nhân hóa trong vòng năm năm. “Đầu tư mạo hiểm là que diêm thổi bùng ngọn lửa”.

Chương trình Yozma đã tạo ra tiếng vang tại cộng đồng đầu tư Mỹ để họ vượt qua sự e ngại về việc kinh doanh tại Israel. Israel đã tăng gấp đôi thị phần trên chiếc bánh đầu tư mạo hiểm toàn cầu so với châu Âu.

Vào năm 2003, Netanyahu, bộ trưởng tài chính Israel đã có một số cải cách đáng kể: giảm thuế, giảm phí chuyển tiền, giảm lương công chức, tư nhân hóa những biểu tượng lớn của nền kinh tế, cải tổ tài chính.

Những cải cách của Netanyahu được sự ủng hộ ngày càng tăng của dư luận và bánh xe của nền kinh tế bắt đầu lăn. Hiếm có nhà đầu tư tiền tệ quốc tế nào không đầu tư vào Israel.

Chương 11 – Phản bội và cơ hội

Sau khi Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez vào năm 1956. Quân đội Israel vẫn đảm bảo Pháp vẫn tiếp cận được với Suez. Đổi lại, Pháp trút cho Israel rất nhiều vũ khí. Pháp hứa viện trợ cho Israel 200 xe tăng AMX-13 và 72 máy bay chiến đấu Mystere trong vòng 10 năm. Ngày 2 tháng 6 năm 1967, ba ngày trước khi Israel tấn công phủ đầu Ai Cập và Syria, De Gaulle đột ngột cắt đứt quan hệ với Israel, ông nói: “Pháp không ủng hộ quốc gia đầu tiên sử dụng vũ lực”. De Gaulle nối lại quan hệ với thế giới Ả Rập. Pompidou kế nhiệm De Gaulle chuyển 200 xe tăng cho Libya và 50 chiến đấu cơ cho Syria.

Lựa chọn của Israel là để Mỹ thế chỗ Pháp làm nhà cung cấp vũ khí chính cho Israel. Tên lửa Hawk của Mỹ bắt đầu chở đến Israel. Nhưng sự phản bội của Pháp đã khiến Israel tin rằng họ không thể lệ thuộc quá nhiều vào nhà cung cấp vũ khí nước ngoài. Israel quyết định tự chủ, chiêu mộ kỹ sư Thụy Sĩ cảm tình với Israel để được mẫu thiết kế chiến đấu cơ Mirage; rồi quay về chiến dịch buôn lậu vũ khí có từ trước ngày lập quốc; tạo ra xe tăng Merkava, máy bay Nesbe phiên bản của Mirage rồi đến Kfir, chiến đấu cơ Lavi, năm 1988 gia nhập câu lạc bộ không gian. Những chương trình đó đã nâng tầm Israel lên một đẳng cấp mới, giúp Israel mạnh mẽ tiến vào đợt bùng nổ công nghệ cao sau đó. Sau khi bị Pháp cấm vận đã tạo ra một thế hệ kỹ sư Israel giàu kinh nghiệm. Quyết định của De Gaulle đã tạo nên sự đóng góp chủ chốt cho nền kinh tế Israel.

Chương 12 – Từ đầu đạn tên lửa đến mạch nước phun

Các kỹ sư công nghệ người Israel đã học được cách làm việc đa nhiệm trong quân đội Israel. Gavriel là nhà nghiên cứu tên lửa sản xuất vũ khí cho quân đội Israel, anh ta chuyên về các thiết bị điện quang tinh vi cho phép tên lửa “nhìn thấy” mục tiêu. Gavriel có ý tưởng mới là tích hợp công nghệ thu nhỏ trong tên lửa, để phát triển một loại máy ảnh gói gọn trong viên thuốc có thể truyền tải hình ảnh từ bên trong cơ thể con người. Anh gây dựng một công ty sản xuất máy ảnh to bằng viên thuốc gọi là Pillacams. Cuối năm 2007 anh bán được gần 700 nghìn viên. Pillacams thế hệ mới có thể truyền tải không gây đau đớn 18 hình chụp trong một giây suốt hàng giờ, sâu trong ruột người bệnh, bác sĩ có thể theo dõi hình ảnh ngay trong phòng hay phía bên kia địa cầu.

Một số công ty của Gross kết hợp các công nghệ cực kỳ đa dạng. Ông tạo ra một môi trường vi mô khép kín và độc lập, chứa loại tảo sản sinh oxy từ những mạch nước phun ở công viên công nghệ Yellowstone. Loại tảo này cần ánh sáng để sống, một nguồn sáng bằng sợi quang học được gắn trong thiết bị nhỏ. Các tế bào beta hấp thụ oxy và sản sinh ra carbon dioxide, còn tảo thì ngược lại, tạo ra một hệ sinh thái thu nhỏ khép kín. Toàn bộ bể lọc sinh học này được thiết kế để cấy dưới da trong vòng 15 phút, điều trị ngoại trú và được thay thế mỗi năm một lần cho người bệnh tiều đường.

Những sản phẩm có nền tảng đa ngành mà người Israel kết hợp các kinh nghiệm quân sự và dân sự của họ, là cách nghĩ đã sản sinh ra những giải pháp đặc biệt sáng tạo, và mở ra các ngành công nghiệp mới đầy tiềm năng và các tiến bộ “đột phá” trong công nghệ.

Chương 13 – Thế lưỡng nan của Sheikh

Trong thời gian giúp việc cho thị trưởng Jerusalem, Margalit đã đề ra ý tưởng khuyến khích các công ty khởi nghiệp ở Jerusalem nhất là trong lĩnh vực tư nhân. Anh thành lập quỹ JVP, huy động được hàng trăm triệu USD và đã hậu thuẫn cho hàng chục công ty. Ngoài lĩnh vực kinh doanh, trong lĩnh vực nghệ thuật của Jerusalem, anh cho ra đời Maabada đưa các nghệ sĩ và kỹ sư công nghệ đến với nhau, lập công ty sản xuất phim hoạt hình Animation Lab. Margalit đã tạo dựng nhiều công ty, việc làm, ngành nghề, đầu ra cho sự sáng tạo. Sự gắn kết văn hóa là mấu chốt cho thành công của các cụm kinh tế.

Các cụm giúp các cộng đồng phát triển theo cấp số nhân, bởi những người sống và làm việc bên trong cụm đều kết nối với nhau theo cách nào đó. Các mối quan hệ cá nhân, gặp gỡ trực tiếp, ý thức về mối quan tâm chung với vị thế của người trong cuộc.

Hoạt động hiệu quả của các cụm ở Jerusalem đã được các Sheikh (tiểu vương) ở Dubai học tập làm theo. Nhưng Dubai không tạo ra bất cứ cụm phát triển mạnh mẽ nào, mà thay vào đó chỉ là những trung tâm dịch vụ lớn, không có tính chất tạo ra sự cách tân, mạo hiểm. Cơ sở vật chất ở Israel có thể không bằng Dubai, song cơ sở hạ tầng văn hóa đã tạo ra mãnh đất màu mỡ để canh tác sự sáng tạo.

Điều cốt yếu ở cụm Israel là ý thức chia sẻ, sự gắn bó và số phận của một cụm giúp vượt qua những mối thù hằn trong hoạt động kinh doanh. Trong lúc đó ở Dubai, các nhà đầu tư hầu hết là người nước ngoài, họ đến để kiếm tiền, khi đã có tiền họ trở về nhà hoặc tiếp tục với chuyến mạo hiểm kế tiếp. Họ không phải là một thành phần của cộng đồng gắn kết, khi nền kinh tế có những khó khăn, hoặc an ninh bất ổn, họ là người đầu tiên bỏ chạy.
Trong thế giới Ả Rập, kinh tế dầu mỏ đã cản trở tinh thần khởi nghiệp. Việc phân bố hào phóng tài nguyên dầu cho người dân đã cách ly các chính phủ khỏi áp lực cải cách chính trị và kinh tế. Tài nguyên dầu đã thắt chặt quyền lực các chính phủ chuyên quyền. Các chế độ quân chủ tìm cách cân bằng việc hiện đại hóa kinh tế với các giới hạn của tự do hóa, đó là sự mong manh của thành công. Đây là “thế lưỡng nan của các vị Sheikh”.

Sự tương phản giữa hai mô hình này cho thấy một quan điểm đơn giản về cụm – tức quan điểm cho rằng một tập hợp các học viện có thể gom lại và tạo nên một thung lũng Silicon – là sai lầm.

Chương 14 – Các mối đe dọa với sự thần kỳ của nền kinh tế

Cộng đồng các công ty khởi nghiệp vững vàng của Israel hiện nay sinh ra hình như cùng lúc với giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin toàn cầu; sự khởi động của chương trình đầu tư mạo hiểm Yozma; làn sóng nhập cư khổng lồ từ Liên Xô cũ và hiệp ước hòa bình Oslo 1993. Kinh tế thần kỳ của Israel đã được xây dựng dựa trên sự trùng hợp may mắn đó.

Năm 2006, bong bóng công nghệ đã vỡ, năm 2001 hiệp ước hòa bình Oslo sụp đõ, làn sóng đánh bom tự sát diễn ra ở Israel. Những diễn biến tiêu cực này có đe dọa nền kinh tế Israel?

Cổ máy công nghệ của Israel có chậm lại nhưng không đáng kể. Lĩnh vực đầu tư vào Israeel có giảm. Nhưng có thể nói, sự sụp đỗ của nền tài chính quốc tế đã tác động đến hệ thống ngân hàng của hầu hết các quốc gia, chỉ có hai trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là Canada và Israel. Khi các nền kinh tế thế giới suy thoái, thị trường xuất khẩu của Israel bị thu hẹp. Mối đe dọa tiềm ẩn từ Iran sở hữu hạt nhân luôn tồn tại.

Nhưng có lẽ, Israel đã tự “tiêm phòng” để chống các mối nguy hại trong quá khứ vẫn còn tác dụng. Netanyahu mong muốn đưa Israel vào mười lăm nền kinh tế’ lớn nhất thế’ giới vào năm 2020 dựa trên cơ sở “khu vực kinh doanh của Israel thuộc hạng tốt nhất thế’ giới, dân số có tay nghề và nền tảng giáo dục cao”. Ông ban hành chính sách miễn thuế’ mười năm đối với nguồn thu nhập từ nước ngoài của những người hồi hương. Israel có một nền tảng văn hóa và thể chế hiếm hoi, độc nhất, thuần chất, giúp sản sinh ra sự sáng tạo và môi trường kinh doanh. Đó là tài sản quí giá và vô cùng quan trọng của quốc gia này.

– Trần Phú An