Sốc – Sự Trỗi Dậy Của Chủ Nghĩa Tư Bản Thảm Họa
Tác giả : Naomi Klein
Cuốn sách cung cấp cái nhìn sâu sắc về thế giới đen tối của chủ nghĩa tư bản thảm họa, trong đó các vụ khủng hoảng biến động chính trị xã hội được coi là “cơ hội” tái cơ cấu lại chính sách hỗ trợ xã hội để tạo mối làm ăn. Bắt nguồn từ thử nghiệm sốc điện trên cơ thể người vào những năm 1950, các nhà kinh tế tân tự do đã áp dụng khủng hoảng như là cơ hội để cài đặt lại thị trường kinh tế và để lại di sản là máu và sự tàn phá kể từ những năm 1970.
Ai nên đọc cuốn sách này?
Bất cứ ai thích Kinh tế học
Bất cứ ai thích chính sách đối ngoại
Bất cứ ai thích Lịch sử
Tác giả cuốn sách này là ai?
Naomi Klein là một tác giả sở hữu những cuốn sách bán chạy nhất và là một nhà hoạt động chính trị đã được trao giải thưởng Warwick Văn chương và Giải thưởng Quốc gia về Sách kinh doanh. Ngoài một số công trình văn học – khoa học được đánh giá cao như Sốc hay No Logo, cô cũng tham gia thực hiện một số tác phẩm điện ảnh, chẳng hạn như The Take và The Corporation.
1. Hiểu được làm thế nào các cuộc khủng hoảng được sử dụng để tẩy não các nhà kinh tế
Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao các phương tiện truyền thông ngày nay dường như quá tập trung vào thiên tai, xung đột và khủng hoảng kinh tế?
Không nghi ngờ gì khi một trong những lý do là chủ đề về thảm họa sẽ bán được nhiều báo hơn, nhưng như bạn sẽ thấy trong Sốc, các phương tiện truyền thông không phải là những cá nhân duy nhất hưởng lợi từ chuyện này. Các cuộc khủng hoảng như thế này đượcthiểu số những người giàu có khai thác vì lợi ích của riêng họ.
Chỉ với một cái nhìn tổng quát, bạn sẽ khám phá được:
- Điểm giống nhau giữa biện pháp can thiệp kinh tế và liệu pháp sốc điện;
- Cách thức mà kinh tế thị trường tự do biến Chile thành một nước bất bình đẳng nhất trên thế giới; và
- chính phủ Iraq đã bị “cướp” đi 95% nguồn tiền như thế nào.
2. Trong các cuộc thẩm vấn, CIA đã sử dụng phương pháp điều trị sốc tâm lý được thiết kế để “tái tạo” lại các đối tượng
Trong suốt chiều dài lịch sử của tâm lý học, các nhà khoa học và các học giả đã tự hỏi làm thế nào để tìm được phương pháp điều trị tốt nhất cho những người bị rối loạn tâm lý. Đến giữa thế kỷ XX, hầu hết các phương pháp điều trị được tập trung vào việc hàn gắn những tổn thương về mặt tâm lý.
Nhưng Tiến sĩ Ewen Cameron đã quyết định tiếp cận theo cách khác: tái tạo lại phần tâm lý bị “hỏng” của cá nhân thông qua quá trình điều trị gọi là liệu pháp gây sốc. Với sự tài trợ của CIA, Cameron đã tiến hành mở rộng các thí nghiệm với phương pháp điều trị bằng xung điện: dòng điện được truyền qua cơ thể bệnh nhân gây co giật.
Ông nhận thấy rằng tình trạng đối tượng thí nghiệm của mình thay đổi theo khuynh hướng: bệnh nhân đầu tiên sẽ từ trạng thái bình thường quay về những hành vi trẻ con, cho đến khi ý thức hoàn toàn có biểu hiện nhầm lẫn và lờ đờ về lâu dài.
Cameron tin rằng vào thời điểm này, đối tượng trở thành “một tờ giấy trắng” mà trên đó một “danh tính” mới và sạch sẽ có thể được “viết lên”.
Vấn đề là thực tế lại không như thế. Cameron đã có thể xoá đi danh tính của họ, nhưng ông không thể tái tạo lại chúng.
Vì vậy, thay vì thay đổi cách tiếp cận của mình để có được những kết quả mong muốn, Cameron đã lựa chọn tăng cường cường độ điều trị của mình. Ông bắt đầu bằng cách sử dụng phương pháp đó tương tự như tra tấn: hàng tháng trời bệnh nhân phải chịu thiếu thốn sự cảm xúc và cảm giác cô lập, sự cố ý làm rối trí, những cú sốc điện cường độ mạnh và cực nhiều những liều thuốc gây ảo giác.
Trong khi đó, CIA nhận ra rằng liệu pháp sốc Cameron cũng có thể được sử dụng cho mục đích khác – để bình ổn và khai thác thông tin.
Sự cô lập cực đại (thông qua việc tước đi cảm giác) và sự rối trí (thông qua việc cố ý làm sai lệch thời gian bằng cách thay đổi thời gian dùng bữa của họ chẳng hạn) xảy ra khi đối tượng của Cameron không còn có thể nhận thức được những trải nghiệm của họ. Kết quả trực tiếp của việc này là bệnh nhân dễ xúc động và dễ nói chuyện, sau đó các thẩm vấn viên của CIA có thể dễ dàng khai thác để thu thập các thông tin.
Và bằng cách kết hợp sự cách ly này với cảm giác bị quá tải – ví dụ, với đèn nhấp nháy hay âm nhạc có âm lượng rất lớn – họ có thể tiếp tục tăng cường sự hợp tác của bệnh nhân, và sau này, là các tù nhân.
Những quan sát này đã được thu thập trong một tài liệu gọi là Cẩm nang Kubark, có vai trò như một giao thức mà sau này được gọi là “kỹ thuật thẩm vấn cao cấp” – hoặc, như một số người gọi nó, tra tấn.
3. Các nhà kinh tế của thị trường tự do phát triển “liệu pháp sốc kinh tế” để thông qua các cải cách kinh tế một cách gượng ép trong thời gian khủng hoảng
Ý tưởng cho rằng một trật tự mới có thể sinh ra từ đống tro tàn của một nền văn minh sụp đổ đã không còn là một ý kiến mới mẻ. Điều mới mẻ thật sự lại là người ta cố ý phá hoại nền kinh tế của các xã hội không vững bền để có thể cơ cấu lại chúng hoàn toàn.
Lấy cảm hứng từ liệu pháp gây sốc, một nhóm các nhà kinh tế có tiếng nói – đứng đầu là Milton Friedman và các đồng nghiệp của ông tại Trường Kinh tế Chicago – được thành lập và sử dụng liệu pháp sốc kinh tế để ban hành những cải cách tồi tệ.
Nhóm The Chicago Boys của Milton hoạt động theo châm ngôn rằng chính phủ có khả năng điều chỉnh tốt nhất, là chính phủ ít điều chỉnh nhất. Và câu châm ngôn này, tất nhiên, có thể dễ dàng áp dụng cho thị trường.
The Chicago Boys tin tưởng vào chủ nghĩa tư bản toàn diện của thị trường tự do, hoặc ít nhất tin là họ có thể xây dựng được một hệ thống mà càng gần giống như vậy càng tốt. Họ cũng tin rằng thị trường tự do sẽ là chất xúc tác cho sự dân chủ, ổn định và hòa bình.
Tuy nhiên, họ nhận ra rằng để khiến xã hội thực hiện những cải cách thị trường là một vấn đề nan giải bởi vì hầu hết mọi người sẽ không muốn mất đặc quyền kinh tế, chẳng hạn như được công đoàn bảo vệ và được phúc lợi an sinh xã hội.
Giải pháp của họ? Liệu pháp sốc kinh tế!
Họ chờ đợi những cơ hội như các cuộc khủng hoảng kinh tế hoặc bất kỳ cuộc khủng hoảng lớn nào và sau đó sử dụng các cú sốc gây nhiễu loạn để buộc chính phủ phải thông qua các chính sách cải cách sâu rộng để định hình lại chính sách kinh tế.
Sau đó, các The Chicago Boys đảm bảo rằng họ luôn luôn trong tư thế sẵn sàng để tận dụng lợi thế của những cú sốc đột ngột, và nhận ra rằng cách tốt nhất là thay đổi suy nghĩ của các nhà kinh tế học giống như suy nghĩ của họ, càng nhiều càng tốt.
Một cách đã được sử dụng là thực hiện các chương trình giao lưu giữa các trường khu vực Mỹ Latinh và Đại học Chicago. Những con người với kiến thức mới sau đó sẽ trở về Mỹ Latin, rao giảng những kỳ quan của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn để thúc đẩy cải cách nếu một cú sốc xảy ra.
Kim chỉ nam cho hành động của The Chicago Boys là niềm tin rằng nếu các chính sách tự do đã được ban hành nhanh chóng và dứt khoát đến một mức độ nào đó, có thể sẽ không có cách nào để chống lại chúng.
4. Trong thực tế, những cải cách của liệu pháp sốc kinh tế thường đi đôi với sự đàn áp của nhà nước độc tài
Nhưng chỉ gây sốc về mặt kinh tế là chưa đủ để các cử tri kiến nghị thay đổi chính sách trong quá trình cải cách. Để dẹp cơn thịnh nộ không thể tránh khỏi của cộng đồng đối với tình trạng thất nghiệp, mất kiểm soát an ninh đi kèm với tình thế thắt lưng buộc bụng và mở cửa thị trường tự do, các chính phủ phải có biện pháp quyết liệt hơn – như tiến hành chèn ép quyền dân chủ để thúc đẩy cải cách kinh tế khi nhân dân phản đối các chính sách mới.
Ví dụ, dựng lên một chính phủ lâm thời sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003 là một chiến lược tốt để đàn áp quyền dân chủ.
Chính phủ Iraq đã hứa hẹn sẽ tiến hành các cuộc bầu cử nhanh chóng sau khi loại bỏ Saddam Hussein, nhưng vì các thế lực chính trị đang lên của Iraq không có ý định tư nhân hóa ngành công nghiệp dầu mỏ của họ, nhà cầm quyền người Mỹ, Paul Bremer, đã phải tìm cách phá vỡ chúng.
Vậy ông đã làm gì? Với lập luận rằng người Iraq vẫn chưa sẵn sàng cho một nền dân chủ và bầu cử, ông chỉ đơn giản là hủy bỏ các cuộc bầu cử.
Dưới đây là một ví dụ khác: Tại miền Nam vùng Cone của Nam Mỹ – sân khấu của cuộc chiến ý thức hệ bạo lực nhất của The Chicago Boys, quyền tự do được hội họp và đưa ra bất đồng chính kiến đã bị cấm hoàn toàn. Bằng cách bịt miệng những người chỉ trích, The Chicago Boys có thể kiểm soát ý kiến công luận xung quanh các cải cách kinh tế không được hoan nghênh.
Tuy nhiên, sự tàn bạo này cũng mở rộng phạm vi sang hành động vi phạm nhân quyền. Bất kể những thứ gì không được đạt được thông qua bạo lực kinh tế sẽ cần được thực hiện thông qua khủng bố. Trong thời gian Pinochet cầm quyền ở Chile, khoảng 3.200 người đã mất tích hoặc bị xử tử, 80.000 người bị cầm tù và 200.000 người chạy trốn khỏi đất nước. Và trong phạm vi phía Nam của Cone, trong quá trình chuyển đổi kinh tế quy mô lớn này, ước tính có khoảng 100.000-150.000 người phải ở trong trại giam được thiết kế đặc biệt để phá vỡ ý chí của họ.
Những hành vi bạo lực được thực hiện không phải do sự tàn bạo của một nhà độc tài điên rồ. Nó là một vụ khủng bố đã được lên kế hoạch, được thiết kế để buộc người dân phải tuân thủ.
Những ví dụ này cho thấy, khi liệu pháp sốc kinh tế không đủ để thực hiện cải cách, các chính phủ lần lượt dùng đàn áp và bạo lực để đạt được mục đích.
Nhưng ai được hưởng lợi từ liệu pháp sốc kinh tế này? Như bạn sẽ thấy tiếp theo, chân dung người chiến thắng và kẻ thua cuộc vô cùng rõ ràng.
5. Liệu pháp sốc kinh tế có xu hướng có lợi cho các tập đoàn đa quốc gia, những kẻ giàu có bất chấp sự mất mát của tất cả những người còn lại
Với tất cả những thay đổi chính sách kinh tế lớn, có người thắng, có kẻ thua. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ trước đến nay, người thua to nhất vẫn là hầu hết công dân các nước phải trải qua liệu pháp sốc kinh tế.
Việc loại bỏ ngay lập tức khả năng kiểm soát giá cả, mở cửa thị trường trong nước để tư nhân hóa và loại bỏ các rào cản thương mại sẽ gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tầng lớp thấp cổ bé họng. Ví dụ, hãy xem xét Chile dưới thời Pinochet, trong quá trình thực hiện các cải cách kinh tế đầu tiên, tỷ lệ thất nghiệp đạt đến 20% – một kỷ lục quốc gia. Con số này đã tăng lên 30% vào năm 1982 sau một đợt cải cách kinh tế nữa, qui mô toàn bộ nền kinh tế bị thu hẹp gần 15%.
Tác động lâu dài của những chính sách này là khó có thể bỏ qua. Trong năm 2006, Chile, nền kinh tế kiểu mẫu cho những cải cách đưa ra bởi trường đại học Chicago, được xếp hạng thứ 8 trong danh sách các nước bất bình đẳng nhất trên thế giới.
Mặt khác, những người chiến thắng lớn nhất của điều trị sốc kinh tế là các công ty đa quốc gia, khi họ có thể sử dụng tiền của mình để mua lại những công ty chịu nhiều tác động bởi lạm phát và một nền kinh tế bị hủy hoại.
Trong thời gian khủng hoảng kinh tế, các công ty và chính phủ tại các khu vực khủng hoảng có một thời gian khó khăn. Và vì không ai có thể mua sản phẩm của họ nhiều đến nỗi có thể giúp họ duy trì hoạt động, nhiều công ty buộc phải tìm nhiều khách hàng hơn.
Sau khi bị xâm lược, người Iraq đã phải tư nhân hóa ngành công nghiệp dầu khí quốc gia của họ, dường như bị dồn vào bước đường cùng. Điều luật này đã cho phép các công ty nước ngoài được phép giữ lại 100% lợi nhuận mà họ kiếm được mà không cần phải tái đầu tư cho Iraq. Ngoài ra, thuế doanh nghiệp đã giảm từ 45% xuống còn 15%.
Để minh họa điều này đã gây tổn hại như thế nào cho nền kinh tế của Iraq, hãy nhìn nhận thực tế rằng 95% doanh thu của chính phủ Iraq đến trực tiếp từ ngành công nghiệp dầu khí quốc gia. Tóm lại, rõ ràng rằng liệu pháp sốc kinh tế chỉ có lợi cho thiểu số những người giàu, dựa trên sự mất mát của đa số người dân.